www.bigoo.wswww.bigoo.wswww.bigoo.wswww.bigoo.wswww.bigoo.wswww.bigoo.wswww.bigoo.wswww.bigoo.wswww.bigoo.wswww.bigoo.wswww.bigoo.wswww.bigoo.wswww.bigoo.wswww.bigoo.wswww.bigoo.wswww.bigoo.wswww.bigoo.wswww.bigoo.wswww.bigoo.wswww.bigoo.wswww.bigoo.wswww.bigoo.ws

(Để xem trang Blog của mình được tôt nhất bạn nên cài đặt trình duyệt GoogleChome Hay Firefox - Download ở cuối trang)  If you can't Understand This page Just use Translate

Hiển thị các bài đăng có nhãn Kiến thức cần biết. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kiến thức cần biết. Hiển thị tất cả bài đăng

26 thg 10, 2008

TĂNG HUYẾT ÁP(CAO HUYẾT ÁP)


Tăng huyết áp là gì?

Tăng huyết áp (THA), thuật ngữ y khoa là Hypertension, thường được mệnh danh là “kẻ giết người thầm lặng” bởi vì bạn có thể mắc bệnh này trong nhiều năm tháng mà hoàn toàn không phát hiện ra nó.

Thực tế tại Hoa Kỳ hiện nay có khoảng 50 triệu người bị THA, trong đó có đến một phần ba (15 triệu) hoàn toàn không biết mình mắc bệnh.{josquote}15 triệu người mắc bệnh tăng huyết áp tại Hoa Kỳ không được phát hiện{/josquote}

Huyết áp, hay áp lực của máu trên thành mạch, được xác định bằng lượng máu do tim bơm ra, nhịp tim, trở kháng của dòng máu trong động mạch. Huyết áp thường thay đổi trong ngày, có thể thay đổi rất nhẹ theo nhịp tim, chẳng hạn tăng lên chút ít khi bạn vận động, nhịp tim nhanh hoặc khi nghỉ ngơi, thư giãn.
Lượng máu do tim bơm ra mỗi nhịp càng nhiều và lòng động mạch càng chật hẹp thì huyết áp của bạn càng cao. Huyết áp được đọc bằng hai con số:
Số trên cho biết huyết áp tâm thu, là chỉ số áp suất máu trên thành động mạch do tim bạn tạo ra khi tống máu vào động mạch.
Số dưới cho biết huyết áp tâm trương, là chỉ số áp suất máu trên thành động mạch trong thời gian nghỉ của tim giữa hai lần bóp.

Huyết áp bình thường lúc bạn nghỉ ngơi khoảng 120/80mmHg. Nếu huyết áp lúc nghỉ của bạn từ 140/90mmHg trở lên, theo WHO bạn đã bị THA.

Nhiều người đã không nhận thức được những mối đe dọa của THA vì thường nó ít gây ra triệu chứng trực tiếp. Tuy nhiên nếu không được kiểm soát, THA có thể gây nhiều biến chứng, tăng nguy cơ đột quỵ, nhồi máu cơ tim, suy tim, suy thận,… Rất may là việc phát hiện ra THA khá đơn giản bằng cách đo huyết áp đúng phương pháp, và một khi phát hiện ra THA, bạn có thể chủ động kiểm soát nó.

Dấu hiệu và triệu chứng
Hầu hết bệnh nhân THA đều không có triệu chứng. Tuy nhiên người ta thường nghĩ rằng nhức đầu, chóng mặt, chảy máu cam là những triệu chứng báo động. Thực sự nhiều bệnh nhân THA giai đoạn đầu thường bị đau âm ỉ nửa sau đầu vào buổi sáng sau khi ngủ dậy, hoặc dễ bị chảy máu cam hơn bình thường. Tuy nhiên thường các triệu chứng nhức đầu, chóng mặt, chảy máu cam chỉ xảy ra vào các giai đoạn sau của THA – giai đoạn có thể đe dọa tính mạng của người bệnh. Và cũng có nhiều bệnh nhân có huyết áp tăng rất cao mà hoàn toàn không hề có các triệu chứng như trên.

Một số tình trạng sau đây làm mất kiểm soát huyết áp gây ra những triệu chứng sau:
Đổ mồ hôi quá nhiều
Co thắt cơ
Mệt mỏi
Tiểu nhiều, thường xuyên
Nhịp tim nhanh bất thường (đánh trống ngực)






Nguyên nhân
Không phải lúc nào cũng có thể xác định được nguyên nhân THA ở nhiều bệnh nhân. Người ta chỉ xác định được nguyên nhân THA ít hơn 5% các trường hợp, gọi là THA thứ phát. Còn lại hầu hết đều không xác định được nguyên nhân, được gọi là: THA vô căn, THA nguyên phát hay THA thiết yếu.

THA thứ phát có thể do các nguyên nhân sau:
Thuốc, gồm: thuốc ngừa thai uống, thuốc trị cảm cúm, thuốc giảm đau không steroid và một số thuốc kê toa.
Bệnh lý thận
Bệnh lý tuyến thượng thận
Bệnh lý tuyến giáp
Bất thường mạch máu
Tiền sản giật, một tình trạng tăng huyết áp trong 3 tháng cuối thai kỳ
Sử dụng các thuốc cấm như cocaine hoặc amphetamine

Yếu tố nguy cơ
Có hai loại yếu tố nguy cơ của THA: thay đổi được và không thay đổi được

4 yếu tố nguy cơ chính không thay đổi được:
Tuổi. Càng lớn tuổi, nguy cơ THA càng cao
Chủng tộc. Người da den có nguy cơ THA cao hơn người da trắng
Giới tính. Ở người trẻ và giai đoạn đầu của tuổi trung niên, nam có nguy cơ THA cao hơn nữ. Khoảng 55-64 tuổi, nguy cơ THA ở hai giới là bằng nhau, và đến trên 64 tuổi, nữ lại có nguy cơ cao hơn nam.
Tiền sử gia đình. Nguy cơ có xu hướng cao đối với các thành viên trong gia đình có người bị THA.
Các yếu tố nguy cơ có thể kiểm soát và thay đổi được:
Béo phì. Cân nặng cơ thể càng cao, nhu cầu ôxy và dinh dưỡng cho chúng càng tăng và lượng máu trong hệ tuần hoàn đảm trách nhiệm vụ này cũng tăng cao hơn người gầy, do vậy nguy cơ THA cao hơn.
Ít hoạt động thể lực, góp phần tăng nguy cơ béo phì. Người ít hoạt động thân thể cũng có xu hướng có nhịp tim nhanh, cơ tim phải làm việc nặng nhọc hơn mỗi lần co bóp, dẫn đến tăng áp lực máu trên thành động mạch.
Hút thuốc lá. Các hóa chất trong khói thuốc lá có thể gây tổn thương các tế bào lót mặt trong thành động mạch của bạn, gây ra sự kết tập tiểu cầu, lắng đọng cholesterol và dần dần tạo nên những mảng xơ vữa. Nicotine trong khói thuốc lá còn làm co thắt các mạch máu và buộc tim bạn phải hoạt động mệt mỏi hơn.
Nhạy cảm với muối Natri. Nhưng người này nhạy cảm với Natri hơn và cơ thể dễ giữ lại muối Natri gây ứ trệ dịch, tăng áp lực máu.
Hạ Kali huyết. Kali là một chất điện giải quan trọng giúp duy trì cân bằng Natri trong tế bào. Nếu bạp nhập vào không đủ lượng Kali, Natri sẽ tích tụ nhiều trong cơ thể gây THA.
Uống quá nhiều rượu. Người ta vẫn chưa hiểu rõ bằng cách nào và tại sao rượu có thể gây THA. Tuy nhiên nếu nghiện rượu lâu dài, cơ tim của bạn sẽ bị tổn thương và suy yếu.
Stress. Tình trạng stress nặng có thể gây THA tạm thời nhưng nguy hiểm. Huyết áp càng tăng nặng hơn nếu bạn tìm cách thư giãn cải thiện stress bằng việc ăn nhiều hơn, hút thuốc lá hay uống rượu nhiều.

Ngoài ra bạn cũng có nhiều nguy cơ mắc bệnh THA nếu đang có những bệnh lý mạn tính khác như tăng cholesterol máu, đái tháo đường, ngưng thở lúc ngủ (do tắc nghẽn một phần đường thở lúc ngủ), suy tim,…{josquote}Bệnh Tăng huyết áp rất dễ chẩn đoán nhưng người bệnh không phát hiện và còn rất nhiều người chưa sẵn sàng tuân thủ điều trị{/josquote}

Khi nào bạn cần đến khám ở Bác sĩ?
Nên kiểm tra huyết áp ít nhất mỗi 2 năm. Bác sĩ sẽ giúp bạn kiểm tra thường xuyên hơn. Bảng sau áp dụng cho người trưởng thành trên 18 tuổi.

Tình trạng
HA tâm thu

HA tâm trương
Việc cần làm
Tối ưu
<120mmHg và <80mmHg Kiểm tra lại trong vòng 2 năm Bình thường <130 và <85 Kiểm tra lại trong vòng 2 năm Bình thường cao 130-139 hoặc 85-89 Kiểm tra lại trong vòng 1 năm THA giai đoạn 1 140-159 hoặc 90-99 Đánh giá lại trong vòng 2 tháng Giai đoạn 2 160-179 hoặc 100-109 Hãy khám và điều trị ở Bác sĩ trong vòng 1 tháng Giai đoạn 3 180 hoặc hơn hoặc 110 hoặc hơn Đến khám và điều trị ở Bác sĩ ngay trong vòng 1 tuần Biến chứng Nếu phát hiện mình bị THA, bạn phải kiểm soát nó chặt chẽ. Sự tăng áp lực liên tục lên thành động mạch sẽ gây nhiều tổn thương nặng nề nhiều cơ quan sinh tồn của cơ thể. Huyết áp tăng càng cao, thời gian không kiểm soát THA càng nhiều thì các tổn thương càng nặng. Khi các triệu chứng xuất hiện thì bạn đã bị một tổn thương nào đó rồi. Các nghiên cứu đã chứng minh mối liên quan trực tiếp giữa THA không kiểm soát và tăng nguy cơ đột quỵ, nhồi máu cơ tim, suy tim, suy thận, rối loạn thị giác,… THA có thể gây ra các rối loạn sau: Tổn thương động mạch. Xơ cứng động mạch (động mạch trở nên dày và cứng, mất độ đản hồi), xơ vữa động mạch (lắng đọng mỡ thành những mảng ở mặt trong thành động mạch) và phình động mạch (mạch máu có đoạn bị phình lớn) Dày các buồng tim có nhiệm vụ bơm máu. Gọi là bệnh phì đại buồng thất trái, có thể dẫn đến hậu quả suy tim. Để chống lại áp lực máu cao trong động mạch, cơ tim phải tăng cường hoạt động và dày lên. Nhu cầu ôxy và năng lượng cho cơ tim cũng tăng, trong khi lượng máu đến nuôi cơ tim không đủ. Đồng thời, khi cơ tim dày lên và hoạt động nhiều, lượng máu mà tim bóp ra để đáp ứng cho nhu cầu cơ thể cũng tăng lên và gây ứ trệ dịch ở phổi và các chi. Tắc nghẽn hoặc vỡ mạch máu não, gây tai biến mạch máu não và đột quỵ. Yếu, hẹp mạch máu ở thận. Dày, hẹp hoặc vỡ các mạch máu võng mạc, có thể gây mù mắt. Bạn hãy thực hiện sự phòng ngừa ngay từ bây giờ. Kết quả sẽ rất tuyệt vời, nếu như bạn kiểm soát tốt huyết áp của mình trong 5 năm, nguy cơ bị nhồi máu cơ tim giảm 20% và nguy cơ suy tim giảm đến 50% hoặc hơn. Điều trị Biện pháp kiểm soát huyết áp an toàn nhất là thay đổi lối sống. Tuy nhiên đôi khi chỉ dùng biện pháp này thì chưa đủ mà phải phối hợp với điều trị bằng thuốc hạ huyết áp. Hiện có rất nhiều loại thuốc hạ áp trên thị trường với nhiều cơ chế tác dụng khác nhau. Nếu một loại không thể hạ huyết áp đến mức an toàn, bác sĩ có thể phối hợp thêm một vài thuốc khác vào chế độ điều trị của bạn. Gồm một số loại thuốc hạ áp chủ yếu sau: Thuốc lợi tiểu. các thuốc này tác động đến thận giúp cơ thể thải ra nhiều muối và nước, từ đó làm giảm thể tích tuần hoàn, gây hạ áp. Thuốc chẹn thụ thể beta (beta-blocker). Các thuốc này ngăn chặn tác dụng của một số chất hóa học có liên quan adrenaline, làm chậm nhịp tim và giảm sức co bóp của cơ tim. Thuốc ức chế men chuyển Angiotensin (Angiotensin-converting enzyme (ACE) inhibitors). Các thuốc này giúp giãn mạch máu bằng cách ngăn cản sự hình thành của một hóa chất tự nhiên gây co mạch trong cơ thể. Thuốc ức chế thụ thể Angiotensin-II. Các thuốc này giúp giãn mạch máu bằng cách ức chế hoạt động – chứ không phải sự hình thành – của một hóa chất tự nhiên gây co mạch trong cơ thể. Thuốc đối kháng Canxi, hay thuốc chẹn kênh Canxi. Các thuốc này giúp giãn cơ trơn mạch máu. Một số có thể gây chậm nhịp tim. Để đưa huyết áp về mức an toàn, bác sĩ của bạn còn có thể phối hợp các thuốc chủ yếu trên với nhiều thuốc hạ áp khác, như: Ức chế thụ thể alpha (alpha-blockers). Các thuốc này ngăn chặn sự co thắt cơ trơn trong các tiểu động mạch và giảm thiểu ảnh hưởng của các chất gây co mạch tự nhiên trong cơ thể. Thuốc ức chế trung ương. Các thuốc này ngăn chặn hệ thần kinh trung ương của bạn phát ra các xung động làm tăng nhịp tim hoặc co mạch máu. Thuốc giãn mạch trực tiếp. Aûnh hưởng trực tiếp trên cơ trơn thành động mạch, ngăn chặn sự co thắt cơ làm chít hẹp lòng động mạch. Tự chăm sóc bản thân Chiến lược kiểm soát huyết áp tốt nhất nên bắt đầu bằng việc thay đổi lối sống, ngay cả trong trường hợp bạn đang sử dụng thuốc hạ áp. Bạn buộc phải dùng thuốc liều cao hơn nếu không thay đổi một số các thói quen của mình. Sau đây là một số biện pháp bạn có thể áp dụng: Hãy ăn uống vì nhu cầu sức khỏe. Bạn nên có một chế độ dinh dưỡng cân bằng hợp lý, với nhiều ngũ cốc, trái cây, ra tươi, ăn hạn chế mỡ và các chất béo. Nhiều nghiên cứu cho thấy những chế độ ăn giảm cân có thể giúp giảm huyết áp rất tốt. Nếu bạn bị THA và thuộc type người nhạy cảm muối Natri, tốt nhất nên hạn chế ăn muối. Việc hạn chế ăn muối có thể giúp bạn không phải dùng thuốc hoặc giúp thuốc hạ áp tác dụng hiệu quả hơn. Chế độ dinh dưỡng như vậy không chỉ tốt cho người bệnh THA mà còn rất có lợi cho những người khỏe mạnh bình thường. Cân nặng hợp lý. Nếu chỉ số khối cơ thể BMI (Body Mass Index, tính bằng: Cân nặng (kg) chia cho bình phương chiều cao (m vuông)) của bạn bằng 25 hoặc hơn (áp dụng cho người Âu, Mỹ) và bằng 23 hoặc hơn (áp dụng cho người Việt Nam), bạn cần phải có chế độ giảm cân. Chỉ cần bạn giảm cân một ít, khoảng 4,5kg cũng có thể làm giảm huyết áp đáng kể. Một số người chỉ cần giảm cân là đã có thể hạp huyết áp đến mức bình thường mà không cần điều trị bằng thuốc. Tập thể dục. Tập aerobic thường xuyên dường như có thể làm giảm huyết áp, ngay cả trong trường hợp tập chưa đến mức giảm cân nặng. Tương tự, đi bộ nhanh trong 30 phút mỗi ngày, 5-7 ngày trong tuần có thể làm hạ huyết áp và giảm cân. Không hút thuốc. Nếu bạn đã bị THA, thuốc lá có thể làm tăng sự lắng đọng cholesterol và nhiều loại mỡ khác trên thành mạch của bạn. Gây xơ vữa động mạch và chít hẹp dần dần lòng mạch. Hạn chế rượu, cà phê. Ngay cả khi bạn là người khỏe mạnh, rượu và cà phê cũng có tác dụng làm tăng huyết áp đến mức bất lợi cho sức khỏe. Nếu bạn hạn chế rượu ở mức điều độ, huyết áp tâm thu có thể giảm 5 và HA tâm trương giảm 3mmHg. Uống điều độ có nghĩa là bạn dùng không quá 2 cốc mỗi ngày, ví dụ hai cốc bia dung tích 340mL, hoặc hai cốc rượu vang 140mL, hay 2 cốc 28 mL rượu Whiskey 100 độ cồn. Cà phê có tác dụng kích thích nhẹ, tăng độ tập trung và làm tinh thần sảng khoái, nhưng đồng thời cũng làm tăng huyết áp. Nếu bạn đã bị THA, mỗi ngày không nên dùng quá hai cốc cà phê hoặc 3-4 tách trà. Bạn cũng lưu ý tránh dùng cà phê ngay trước các hoạt động có thể làm tăng huyết áp tự nhiên như tập thể dục. Kiểm soát stress. Aûnh hưởng của stress thường chỉ tạm thời. Nhưng nếu bạn thường xuyên bị stress, huyết áp có thể tăng và dao động làm tổn thương động mạch, tim, não, thận và mắt. Bạn có thể tránh hoặc đương đầu với stress bằng một số kỹ thuật thư giãn. Bạn có thể giảm stress bằng nhiều cách: làm việc có điều độ, đơn giản hóa lịch làm việc, thường xuyên gặp gỡ, tiếp xúc bạn bè, duy trì các mối quan hệ xã hội, đoàn thể, tập cách suy nghĩ lạc quan về những “khoảng thời gian lo lắng” trong ngày, về những cách giải quyết các vấn đề khó khăn trong công việc,…Một số kỹ thuật thư giãn gồm các bài tập hít thở sâu, bài tập thư giãn cơ, hình ảnh hướng dẫn, thiền định và liên hệ phản hồi sinh học. Ngủ đủ giấc. Một khi thư giãn tốt, bạn có thể đương đầu với một ngày mới nhiều stress, nhiều vấn đề phải giải quyết. Nên ngủ sớm, dậy sớm điều độ mỗi ngày, có thể tắm nước ấm, đọc sách hoặc ăn nhẹ trước khi ngủ để giúp thư giãn. Bạn nên đến thăm khám ở bác sĩ nếu huyết áp không hạ sau 3-6 tháng thay đổi lối sống một cách tích cực. Các bác sĩ sẽ cho bạn dùng thuốc hạ áp phối hợp với một chế độ tiết chế ăn uống và tập luyện, thay đổi lối sống phù hợp. Một số kỹ năng cần có THA không phải là một bệnh chỉ điều trị một vài lần là chấm dứt. Bạn cần phải kiểm soát huyết áp liên tục từ khi phát hiện cho đến cuối cuộc đời mình. Bạn cần biết một số kỹ năng sau: Đo huyết áp tại nhà. Điều này rất có lợi vì bạn chủ động theo dõi huyết áp của mình nhiều lần trong ngày. mỗi khi đo HA, bạn nên đo 2 lần và ghi chú lại. Không cần thiết phải đo nhiều lần trong tuần nếu huyết áp đã được kiểm soát tốt. Lưu ý không đo huyết áp lúc bạn vừa mới tập thể dục, vận động hay làm việc nặng xong, HA có thể tăng không chính xác. Uống thuốc phù hợp và đều đặn Giảm stress bằng nhiều phương pháp như ngủ đủ giấc, học cách từ chối những nhiệm vụ, công việc tăng cường, từ bỏ những suy nghĩ bi quan và duy trì các mối quan hệ bạn bè, cộng đồng. Khám bệnh ở bác sĩ thường xuyên. Thay đổi thói quen theo hướng có lợi cho sức khỏe. Luôn kiên nhẫn và lạc quan về bệnh tình của mình. (Bài viết trích đăng từ trang web Sứckhỏecộngđồng.com)

Xem Chi Tiết!

5 HIỂU LẦM VỀ BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP


Một số người huyết áp rất cao nhưng không có biểu hiện gì đặc biệt, trong khi những người khác triệu chứng rất rõ ràng nhưng huyết áp lại không cao lắm.


Tăng huyết áp là tình trạng huyết áp tối đa bằng hoặc lớn hơn 140 mmHg, huyết áp tối thiểu lớn hơn hoặc bằng 90 mmHg trở lên. Tăng huyết áp có thể là tăng một trong hai chỉ số này, hoặc cả hai. Trường hợp huyết áp tối thiểu tăng cao là rất nguy hiểm, dễ gây tai biến.

Biểu hiện lâm sàng của bệnh rất phức tạp, tùy thể trạng của từng người. Bệnh nhẹ có các triệu chứng như đau đầu, chóng mặt, ù tai hoa mắt, mất ngủ mức độ nhẹ... Bệnh nặng sẽ gây đau đầu dữ dội, đau vùng tim, thị lực giảm sút; người bệnh thở gấp, mặt đỏ bừng hoặc tái xanh, thậm chí có thể nôn hoặc buồn nôn, hốt hoảng...

Tăng huyết áp có thể là nguyên nhân của các bệnh ở động mạch vành, tim, xơ cứng động mạch thận. Dưới đây là một số hiểu biết sai lầm về bệnh này:

Tăng huyết áp cùng với tuổi tác là hiện tượng bình thường

Huyết áp sẽ tăng tỷ lệ thuận với độ tuổi; đặc biệt là vào giai đoạn lão hóa, huyết áp tối đa tăng rõ rệt nhất. Tuy nhiên, đây không phải là một hiện tượng sinh lý, mà rất có hại cho sức khỏe. Người huyết áp tối đa cao có nguy cơ gặp các tai biến nguy hiểm cao gấp 3-6 lần so với người có chỉ số này bình thường, cần có biện pháp điều trị để phòng ngừa được các bệnh về tim và mạch máu não.

Chỉ cần uống thuốc hạ áp khi tinh thần căng thẳng

Một số người già cho rằng thuật ngữ “tăng huyết áp” dùng để chỉ những người bị kích thích về tinh thần và căng thẳng về thần kinh. Do đó, họ chỉ uống thuốc khi cảm thấy khó chịu, căng thẳng về tinh thần. Nhưng nên biết rằng tăng huyết áp không chỉ do sự căng thẳng về tinh thần; có rất nhiều người sống trong điều kiện thoải mái nhẹ nhàng mà vẫn bị. Việc dùng thuốc không đúng sẽ có thể dẫn đến tai biến nguy hiểm.

Có thể biết bệnh nặng, nhẹ qua cảm giác

Triệu chứng của tăng huyết áp nhiều khi không đồng nhất với mức độ bệnh. Có khi triệu chứng rất rõ ràng nhưng huyết áp lại không cao lắm. Ngược lại, có những người huyết áp rất cao nhưng triệu chứng lâm sàng rất nghèo nàn nên không uống thuốc, khiến nhiều chứng bệnh cùng phát sinh như tim phì đại, nhồi máu cơ tim...

Do đó, nên định kỳ kiểm tra sức khỏe, trong đó có đo huyết áp để phát hiện bệnh. Với những người đã có chẩn đoán tăng huyết áp, nên đo thường xuyên để biết diễn biến bệnh.

Chỉ cần thay đổi chế độ ăn và sinh hoạt là đủ

Khi bác sĩ thường khuyên rằng bên cạnh việc uống thuốc hạ huyết áp hằng ngày, bệnh nhân cần chú ý thay đổi chế độ ăn uống, sinh hoạt như giảm béo, năng tập thể dục thể thao, ăn giảm muối. Nhưng một số người lại hiểu nhầm rằng, họ không cần uống thuốc mà chỉ cần chọn lấy một trong những cách trên là có thể cải thiện bệnh. Thực ra phần lớn các biện pháp này chỉ có vai trò bổ trợ, chứ không thể thay thế thuốc. Nếu không dùng thuốc mà bác sĩ đã chỉ định, bạn có thể gặp nguy hiểm.

Ngừng thuốc khi thấy bệnh giảm

Rất nhiều bệnh nhân sau khi điều trị thấy huyết áp trở lại mức bình thường đã tự ý ngừng thuốc vì cho rằng mình đã hoàn toàn khỏe mạnh trở lại. Trên thực tế, số người bị tăng huyết áp điều trị khỏi rất hiếm, vì vậy cần phải cảnh giác, liên tục kiểm tra điều chỉnh nhằm phòng chống những biến chứng. Phần lớn bệnh nhân phải uống thuốc suốt đời.

Không phải người có huyết áp 150 mmHg thì sẽ an toàn hơn người có huyết áp 200 mmHg. Sự an toàn tính mạng chủ yếu là do ý thức bảo vệ sức khỏe. Người huyết áp cao 200 mmHg mà biết cách chú ý giữ gìn, uống thuốc theo đúng chỉ định của bác sĩ, sống điều độ thì sẽ giúp huyết áp ổn định lại. Ngược lại, người huyết áp vốn chỉ ở mức 150 mmHg mà không chịu giữ gìn, ăn uống vô tội vạ, không tập luyện thường xuyên thì rất dễ tiến triển thành bệnh nặng.

(TheOrginal Source)

Xem Chi Tiết!

KIến thức về bệnh Kinh Phong(Động kinh)


TS Nguyễn Hữu Công (BV Chợ Rẫy)
Trong công việc và sinh hoạt thường ngày, đôi khi chúng ta gặp người mắc chứng "kinh phong". Đó có thể là người đi đường tình cờ không quen biết, cũng có thể là người quen vẫn thường tiếp xúc hàng ngày.


Người bệnh đang sinh hoạt, có thể đang ngồi, đứng hay đi, đột nhiên ngã xuống, bất tỉnh và co giật chân tay. Có người mắt trợn tròng, sùi cả bọt mép, trông thật thương tâm. Là những người bình thường, chỉ có chút ít hiểu biết về y học phổ thông, đôi khi chúng ta thực sự luống cuống và không biết xử trí thế nào cho đúng. Mặt khác "kinh phong" cũng là một khái niệm dân gian, có thể được mỗi người mô tả một kiểu khác nhau.

Sau đây ý kiến của các nhà chuyên môn về một số thể loại "kinh phong", có nhấn mạnh những khía cạnh liên quan tới phụ nữ và trẻ em, là những đối tượng mà độc giả "Thế giới phụ nữ" quan tâm.

PHẢI CHĂNG LÀ BỆNH ĐỘNG KINH ?
Kinh phong thường gặp nhất và đúng nghĩa nhất, chính là bệnh động kinh cơn lớn, thuật ngữ y học là grand mal epilepsy. Người bệnh đang sinh hoạt bình thường, có thể đột ngột hét lên, do khép dây thanh âm đồng thời với co mạnh các cơ ở ngực, rồi ngã vật xuống đất, người duỗi cứng. Giai đoạn duỗi cứng này kéo dài từ vài giây tới 3 phút, người bệnh ngừng thở và tím tái. Hết duỗi cứng thì bắt đầu giật các bắp thịt toàn thân, gồm cả mặt, hàm, lẫn chân tay. Co giật các cơ bắp ở hàm làm cho người bệnh có thể tự cắn phải lưỡi của mình. Ta thấy người bệnh sùi nước miếng ra, và trong nước miếng có thể có lẫn máu do cắn phải lưỡi. Cũng có thể đái ra quần, nếu ngay trước khi lên cơn kinh phong người bệnh chưa đi toa lét. Ta thấy co giật nhịp nhàng cả tứ chi, hai bên phải và trái, mới đầu co giật nhanh, về sau chậm dần rồi ngừng lại. Người bệnh còn nằm mê man mất một lúc, rồi tỉnh lại. Khi tỉnh lại có thể còn lú lẫn mất một lúc, rồi có thể ngủ một giấc, sau đó mới tỉnh táo hoàn toàn được, than đau đầu, đau bắp thịt và mệt mỏi nhiều. Tóm lại, một cơn động kinh cơn lớn điển hình là tình trạng đột ngột mất ý thức (bất tỉnh), duỗi cứng toàn thân, rồi co giật (cân đối hai bên phải - trái) tất cả các bắp thịt toàn thân, hết co giật thì lú lẫn hoặc ngủ một giấc.

Thông thường, hầu hết kinh phong do động kinh cơn lớn như mô tả trên sẽ tự hết. Trong lúc đang co giật, thì không có bất cứ cách can thiệp nào làm hết cơn ngay. Đừng hô nhau đè giữ người bệnh vì có thể vô tình làm người ta gãy xương hay sai khớp. Tốt nhất hãy che chắn người bệnh cẩn thận nếu họ đang nằm trên chỗ cao hoặc sát chỗ nguy hiểm tính mạng như: hố nước sâu hay ao hồ, chỗ có lửa hay hở điện, sát lề đường. Nếu người bệnh cắn phải lưỡi thì nên kiếm vật chèn vào giữa 2 hàm răng, tốt nhất là 1 cái thìa có bọc vải nhiều lớp hay một khăn mùi xoa gấp lại nhiều lần. Nên chèn lệch một bên giữa 2 hàm, đừng để chính giữa hai hàng răng cửa, cũng đừng chèn vật nhỏ quá không có tác dụng, mà thậm chí còn bị hít sâu vào họng do co giật mạnh cơ hô hấp trong cơn vô ý thức, gây tắc đường thở. Để người bệnh khỏi hít ngược các chất dịch tiết ở miệng vào phổi, nên xoay đầu lệch một bên như hình vẽ. {mosimage}

Nếu người bệnh bị hết cơn co giật này tới cơn khác, giữa chừng các cơn co giật không thể tỉnh táo trở lại được, thì người ta gọi là "trạng thái động kinh", hay "động kinh liên tục". Đây là một tình trạng nguy hiểm tính mạng, cần chuyển ngay đi cấp cứu ở bệnh viện. Trong khi di chuyển, nhớ chèn răng và quay ngiêng đầu như mô tả trên.

Để chẩn đoán bệnh khi bình thường không có cơn co giật, bác sỹ sẽ yêu cầu ghi điện não đồ. Bệnh động kinh được coi như một bệnh xã hội, và do vậy được bao cấp về thuốc. Người bệnh động kinh có thể lĩnh thuốc miễn phí giống như người bệnh lao hay bệnh phong. Ở nước ta, do kinh phí khó khăn, thường chỉ có Gardenal, nhưng dù sao thuốc này cũng đủ tác dụng tốt cho đa số người bệnh động kinh. Ngoài ra, các tiệm thuốc còn có bán các thuốc chống động kinh khác như: Tégrétol, Dihydan, Depakine … Việc dùng thuốc nào và liều lượng cụ thể bao nhiêu, thường các bác sỹ phải xem xét trên từng người bệnh cụ thể mới kê toa được.

CO GIẬT Ở TRẺ EM ?
Trẻ sơ sinh có những biểu hiện co giật rất phức tạp, nên đưa tới bác sỹ nhi khoa, tốt nhất là bác sỹ nhi khoa chuyên về thần kinh.

Có một số trẻ, thường ở khoảng 18 tới 36 tháng tuổi, khi sốt thì lên cơn co giật. Co giật thường không kéo dài (dưới 10 phút). Hết co giật sau 2 tuần ghi điện não đồ thấy bình thường. Thường đây là co giật do sốt lành tính, không phải là bệnh động kinh, không cần điều trị. Nên dự phòng bằng cách tránh sốt cao: điều trị sớm và triệt để các bệnh truyền nhiễm, và dùng thuốc hạ sốt khi có sốt cao. Khi lên cơn, có thể dùng biệt dược có Diazepam nhét vào trong hậu môn của bé. Tuy vậy đôi khi viêm màng não có sốt kèm co giật, khi ấy co giật kèm sốt là biểu hiện của bệnh nguy hiểm, cần nhập viện để điều trị kịp thời. Muốn phân biệt được, phải để ý xem trẻ có bị cứng gáy không, và trạng thái ý thức có bị rối loạn không (li bì hôn mê ?). Rối loại điện giải (đặc biệt là hạ Natri trong máu), chứng urê máu cao, viêm não, các dị dạng não … là những nguyên khác của co giật ở trẻ em.

Một số trẻ bị bệnh động kinh thực sự không sốt cũng co giật. Chứng co giật ở trẻ còn bú (infantile spasms) còn được các bác sỹ gọi là hội chứng West, gồm 3 biểu hiện là: các cơn co giật cơ mạnh khi chưa tròn 1 tuổi đời, không phát triển trí tuệ, và điện não đồ có loạn nhịp sóng cao thế (hypsarrhythmia). Co giật biểu hiện bằng động tác bé đột ngột cúi gập lưng ra trước, tay và chân duỗi thẳng, giống như tín đồ đạo Hồi đang cầu kinh, nên còn gọi là cơn salaam. Cơn chỉ kéo dài 1 vài giây, nhiều lần trong ngày. Đôi khi ngược lại: bé ưỡn cong lưng và ngửa đầu. Dù gì thì đây cũng là bệnh rất nghiêm trọng. Người ta phải chụp sọ não cắt lớp điện toán (CT scan não) xem có bất thường bẩm sinh gì không, và dùng các thuốc đặc hiệu, thuốc phải do bác sỹ chuyên khoa kê toa (ví dụ ACTH, Clonazepam, Valproic acid…).

Trẻ từ 2 đến 5 tuổi, vốn trước có thể có các "cơn salaam" kiểu như trên, ngoài ra còn có động kinh cơn lớn và các loại cơn mất ý thức khác, xuất hiện nhiều lần trong ngày, thì được gọi là bị hội chứng Lennox - Gastaut. Nếu ghi điện não đồ, thấy bản ghi có dạng gọi là "gai-sóng chậm". Đây cũng là bệnh nghiêm trọng, phải do bác sỹ chuyên khoa thần kinh điều trị. Thường dùng Gardenal, hoặc một số thuốc khác giống như ở người lớn. Gần đây tài liệu y khoa hay nhắc tới thuốc Felbamate.

Ngoài 2 hội chứng nghiêm trọng kể trên (hội chứng West và hội chứng Lennox - Gastaut), đa số trẻ bị kinh phong là do bị động kinh cơn lớn, biểu hiện giống ở người lớn, và cách dự phòng điều trị cũng gần tương tự.

CHỨNG "KINH PHONG" VÀ VẤN ĐỀ THAI NGHÉN
Đa số người bệnh động kinh nữ có thể có thai và tiên lượng cho thai thuận lợi. Nhưng dù sao cũng phải biết rằng tỷ lệ trẻ chết non và dị dạng ở những bà mẹ bị bệnh động kinh (6-7%) là nhiều hơn so với ở những bà mẹ không bị bệnh động kinh (chỉ 3-4%). Trong đó các thuốc chống động kinh cũng có một tỷ lệ gây dị dạng thai nhi như: dị tật tim bẩm sinh, sứt môi và hàm ếch, sọ quá nhỏ … Mẹ càng phải dùng phối hợp nhiều thuốc chống động kinh, thì tỷ lệ bị dị dạng của con càng cao hơn. Dùng Dihydan và Depakine thì gặp nguy cơ nhiều hơn dùng Tégrétol. Khi có thai, bác sỹ sẽ cố gắng điều chỉnh thuốc, sao cho người mẹ dùng chỉ 1 thuốc là tốt nhất. Để tránh một kiểu dị dạng là dị dạng ống thần kinh, người ta hay khuyên bà mẹ dùng thêm các chế phẩm có folate. Ở các nước tiên tiến, khi một phụ nữ bị bệnh động kinh có thai, nếu dưới 35 tuổi người ta khuyên nên đi siêu âm thai bằng máy siêu âm có độ phân giải cao, nều trên 35 tuổi người ta khuyên nên kiểm tra alpha - fetoprotein trong máu.

Bản thân các cơn co giật ảnh hưởng tới thai nhi như thế nào ?. Theo các bác sỹ, nếu lâu lâu, thỉnh thoảng mẹ mới bị lên cơn co giật, thì thường thai nhi không bị sao. Nhưng nếu mẹ bị trạng thái động kinh, thì cực kỳ nguy hiểm cho cả mẹ lẫn con, cần phải đưa gấp tới bệnh viện.

"KINH PHONG" DO NHỮNG NGUYÊN NHÂN KHÁC
Người già đột nhiên co giật, cần nghĩ tới những nguyên nhân nghiêm trọng. Có thể là biểu hiện của chảy máu não do cao huyết áp, cũng có thể khởi đầu của một u não. Dù là nguyên nhân gì, khi một người lớn tuổi mới lần đầu tiên bị co giật, cũng cần khám chuyên khoa thần kinh tỷ mỷ, và có thể cần tới các xét nghiệm mắc tiền nhưng rất giá trị như chụp sọ não cắt lớp điện toán (CT scan), chụp cộng hưởng từ (MRI) …

Một số người bệnh tim mạch có thể có ngất, khi ngất có khi có co giật. Khi ấy phương pháp điều trị chính lại là điều trị bệnh tim. Cũng có người mắc chứng tụt huyết áp tư thế: đứng quá lâu thị xây xẩm và ngất xỉu, thường ít co giật. Hạ canxi trong máu gây ngất xỉu, co quắp hai tay, đôi khi có co giật, bệnh hay thấy ở phụ nữ trong những tình huống căng thẳng.

Cuối cùng phải kể đến nguyên nhân tâm lý. Một vài bạn nữ trẻ tuổi có thể bị các cơn ngất xỉu mà bác sỹ không tìm ra được một nguyên nhân thể chất nào. Trong cơn ngất xỉu có thể có co giật, nhưng co giật không cân đối hai bên, trong cơn không bị mất ý thức, xung quanh càng nhiều người ồn ào lo sợ cho mình, thì cơn càng dữ. Trong sách báo đã từng nêu có đơn vị thanh niên xung phong nữ lan truyền bệnh dịch ngất xỉu co giật, có khi nhiều người cùng bị một lúc. Hoặc có báo đã đưa tin nhiều nữ sinh trong một lớp học cùng bị ngất xỉu co giật. Những bạn nữ như vậy, cần được thông cảm, thường đó là những người có thần kinh nhậy cảm và trong cuộc sống hiện có căng thẳng nào đó. Khi lên cơn, người xung quanh nên quan tâm chăm sóc, nhưng đừng quá hốt hoảng, và đừng tụ tập xúm xít lại quanh người bệnh. Hãy nhường không gian quanh người bệnh cho nhân viên y tế hoặc người có trách nhiệm.

Tệ hại nhất là những kẻ giả vờ bệnh. Người giả vờ bệnh lên cơn "kinh phong" để đạt được mục đích nào đó về vật chất hoặc chế độ. Nhiều khi biểu hiện rất giống cơn động kinh thực thụ, thậm chí bác sỹ cũng còn nhầm. Do vậy, khi gặp một người không quen biết bị co giật ngoài đường, hãy đưa vào chỗ mát và an toàn, đừng hốt hoảng và hãy làm giống như mô tả trong phần nói về người bệnh động kinh. Nếu là người bệnh động kinh, thì sau ít phút cơn co giật sẽ hết và người bệnh sẽ nằm yên rồi dần tỉnh. Thường tự người bệnh biết về bệnh của mình, và xung quanh cũng thường có người quen (cùng cơ quan hay cùng bán ở chợ) của người bệnh đó. Nếu trạng thái động kinh, thì người bệnh sẽ tím mặt lại do thiếu ô xy, và thái độ đúng nhất của ta là đưa đi bệnh viện cấp cứu. Người bị bệnh động kinh thực sự thường không lợi dụng cơn động kinh của mình để cầu lợi, mà tự họ lại cố gắng sao cho không bị lên cơn. Nhưng nhiều khi có người giả vờ bệnh rất khéo và kiên trì, lúc đó thật khó phân biệt, và cần tới bác sỹ chuyên khoa với các xét nghiệm cần thiết.
(Bài viết được trích ăng từ trang web Sứckhỏecộngđồng.com)

Xem Chi Tiết!

GIẢI PHÁP ĐIỀU TRỊ ĐAU ĐẦU HIỂU QUẢ Ở NGƯỜI LỚN


Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, gần như mỗi người chúng ta đều bị chứng đau đầu hành hạ khi phải thường xuyên tiếp xúc với tiếng ồn, với những thay đổi đột ngột của thời tiết. Bệnh cũng có thể xuất hiện do stress hoặc do các yếu tố khác như: do nóng, lạnh thất thường hoặc mất ngủ …


Đau đầu có thể là triệu chứng của các bệnh mạch máu não, u não, viêm nhiễm vùng đầu, mặt, cổ, rối loạn thần kinh chức năng... Để phòng ngừa chứng đau đầu, nên hạn chế dùng rượu, chocolate, đồ ăn nhiều mỡ, mì chính (bột ngọt), dùng ít các gia vị cay nóng... và cố gắng ngủ đủ giấc, hạn chế stress hay hút thuốc lá.
Việc sinh hoạt, ăn ngủ điều độ và tập thể dục hằng ngày cũng có tác dụng rõ rệt trong việc điều hòa các căng thẳng thần kinh và giúp cho giấc ngủ thuận lợi hơn. Ngoài ra, trước khi đi ngủ và sáng sớm lúc thức dậy, nên dùng bàn tay xoa bóp vùng trán, hai bên thái dương và quanh hai hố mắt, đỉnh đầu... để hạn chế sự phát sinh của các cơn đau đầu.

Để làm giảm các cơn đau một cách hiệu quả, nhằm giúp người bệnh nhanh chóng khôi phục lại các chức năng bị tổn thương sau cơn đau. Ơ từng người bệnh, bác sĩ sẽ có những đơn thuốc khác nhau dựa trên cơ sở khám lâm sàng và cận lâm sàng. Tuy nhiên, trong trường hợp cần giảm đau nhanh, bạn có thể dùng sản phẩm có thành phần hoạt chất chính là Paracetamol, là thuốc giảm đau hạ sốt hữu hiệu, dùng trong các trường hợp: cảm cúm, nhức đầu, đau khớp, nhức răng, đau mình…

Hiệu quả điều trị nhanh chóng mà không gây tác dụng phụ như: kích ứng và loét dạ dày, không tác động lên tim, thận và hệ hô hấp… Nếu cơn đau đầu kéo dài, người bệnh cần đến bệnh viện để được bác sĩ chuyên khoa xác định nguyên nhân gây ra những cơn đau và tìm phương pháp điều trị cho phù hợp. Xã hội ngày càng phát triển, thể trạng của người Việt Nam đã được cải thiện, trọng lượng, chiều cao cơ thể vì thế sẽ tăng lên, do đó hàm lượng Paracetamol 500mg thông dụng không đủ để đáp ứng được sự thay đổi này. Theo Dược Thư Quốc Gia, Paracetamol được phân liều sử dụng theo trọng lượng cơ thể: 10-15 mg/kg thể trọng / lần (ví dụ: một người 45 kg hàm lượng cho 1 lần uống trong khoảng 450 – 675 mg), mỗi lần uống cách nhau ít nhất 4 giờ, không quá 4 g/ngày. Có nghĩa là 1 ngày có thể uống tối đa 6 viên chứa Paracetamol 650mg, tương đương 3,9g Paracetamol vẫn nằm trong giới hạn cho phép.

Để đáp ứng nhu cầu điều trị các triệu chứng đau đầu và phù hợp với thể trạng người bệnh, hiện nay trên thị trường có một số sản phẩm chứa Paracetamol 650mg như Hapacol 650, đây là hàm lượng phù hợp và an toàn với người lớn, đặc biệt Hapacol 650 có hiệu quả cao trong điều trị đau đầu nhanh hơn, mạnh hơn và rất an toàn.Nếu trong cuộc sống không thể tránh khỏi những cơn đau đầu thì cách tốt nhất là bạn hãy học cách khắc phục nó. Khi bị đau đầu, ngoài việc sử dụng những thuốc giảm đau thông thường, bạn hãy thường xuyên tập thể dục, đi bộ hay bơi lội, học cách thư giãn và ngủ tốt.

Khi bị đau đầu, có thể chữa bằng cách bấm mạnh vào điểm giữa hai lông mày và day thành những vòng tròn nhỏ, rồi đặt hai ngón tay trỏ vào góc ngoài của hai đuôi mắt và xoa vuốt ngược lên phía trên. Sau đó, đặt 2 ngón tay trỏ lên huyệt thái dương và xoa thành những vòng tròn nhỏ. Việc cử động và xoa bóp cổ gáy cũng có hiệu quả tương tự vì chúng làm giảm sự căng thẳng và co rút gây đau của các cơ ở vùng vai, gáy.
Hoàng Nam
(Bài viết được trích đang từ trang web Ssứckhỏecộngđồng.com)

Xem Chi Tiết!

BỊ NỨT NƠI GÓC MIỆNG (RÁCH KHÓE MÔI)


Đôi lúc, ở góc miệng, nơi tiếp giáp môi trên và môi dưới, xuất hiện những lằn nứt. Những lằn nứt này thường gây đau rát, khó chịu, và có khi bị chảy máu.

Thường người ta nghĩ đường nứt này tạo ra do hành động há miệng quá to và làm khóe môi bị rách... Hoàn toàn không phải vậy.

Đây là một bệnh tạo ra do sự mất quân bình các sinh tố trong cơ thể; có thể do có quá nhiều sinh tố A. Nếu bạn đang uống sinh tố A, hãy bớt liều lượng xuống dưới 5.000 IU mỗi ngày.

Ngoài ra, trong đa số các trường hợp, bệnh nhân chỉ cần uống mỗi ngày từ 50 mg đến 80 mg sinh tố B6 là vết nứt sẽ biến mất trong vòng một vài ngày.
(Bài việt được trích đăng từ trang web Sứckhỏecộngđồng.com)

Xem Chi Tiết!

Sơ cấp cứu khi bị điện giật sét đánh


Dòng điện 110v có thể gây chết do rung thất. các dòng điện cao thế còn làm liệt trung khu hô hấp. Sét có điện thế rất cao (trên 1 triệu vôn). Bị điện giật nặng có thể vừa làm ngừng tim, vừa ngừng thở. Bị điện giật nhẹ có thể bị ngừng tim một thời gian ngắn, lên cơn co giật, sau đó nạn nhân hồi hộp, mê sảng... Chỗ tiếp xúc với điện bị bỏng.

Xử trí

- Ngắt dòng điện. Phải chú ý đề phòng bệnh nhân ngã khi ngắt điện.

- Nếu bệnh nhân ngừng tim, ngừng thở: xem Ngừng tuần hoàn hô hấp

- Dùng máy phá rung thất và máy hô hấp hỗ trợ. Nếu hồi sức chậm có kết quả, tiêm thẳng vào tim Ouabain 1/4mg x 1 ống và tiếp tục hồi sức.

- Khi nạn nhân tỉnh, chữa bỏng... Chú ý theo dõi viêm ống thận gây toan máu.

- Nếu bệnh nhân chỉ mê man bất tỉnh nhưng vẫn thở và tim vẫn đập: kích thích bằng gọi, giật tóc, vã nước vào mặt... Theo dõi mạch, nhịp thở, huyết áp.
(Bài viết được trích đăng từ trang web Sứckhỏecộngđồng.com)

Xem Chi Tiết!

Sơ cấp cứu khi bị ngất xỉu


Ngất xỉu (Cũng giống như syncope) là sự mất tỉnh táo trong chốc lát do lượng máu chảy đến não tạm thời bị giảm. Không giống như bị sốc, mạch đập rất chậm mặc dù chẳng bao lâu nó sẽ trở lại mức bình thường. Việc hồi phục diễn ra nhanh và hoàn toàn.
Ngất xỉu có thể là phản ứng khi bị đau hay sợ sệt hoặc do tức tối, kiệt sức và đói Tuy nhiên, nó thường xảy ra hơn sau một thời thời gian dài không hoạt động thể chất, đặc biệt là ở nơi nóng bức. Máu chảy xuống phần phía dưới cơ thể làm giảm lượng máu hiện có trong não.

Ngất xỉu (Cũng giống như syncope) là sự mất tỉnh táo trong chốc lát do lượng máu chảy đến não tạm thời bị giảm. Không giống như bị sốc, mạch đập rất chậm mặc dù chẳng bao lâu nó sẽ trở lại mức bình thường. Việc hồi phục diễn ra nhanh và hoàn toàn.
Ngất xỉu có thể là phản ứng khi bị đau hay sợ sệt hoặc do tức tối, kiệt sức và đói Tuy nhiên, nó thường xảy ra hơn sau một thời thời gian dài không hoạt động thể chất, đặc biệt là ở nơi nóng bức. Máu chảy xuống phần phía dưới cơ thể làm giảm lượng máu hiện có trong não.
Cách nhận biết
Bất tỉnh trong một khoảng thời gian ngắn; bệnh nhân sẽ ngã xuống sàn.
Mạch đập chậm.
Da nhợt nhạt.
Những điều nên làm :
Tăng lượng máu chảy đến não.
Trấn an khi bệnh nhân tỉnh lại và làm bệnh nhân cảm thấy dễ chịu, thoải mái.
Đặt bệnh nhân nằm xuống, nâng và đỡ chân bệnh nhân lên.
Bảo đảm cho bệnh nhân thở nhiều không khí trong lành; nếu cần thiết thì hãy mở cửa sổ ra.
Khi bệnh nhân tỉnh lại, trấn tĩnh và giúp bệnh nhân ngồi dậy từ từ.
Tìm xem bệnh nhân có còn bị thương tích nào do bị ngã gây ra không và điều trị cho bệnh nhân. Nếu bệnh nhân không hồi tỉnh lại nhanh, hãy kiểm tra nhịp thở và mạch đập của bệnh nhân, chuẩn bị hô hấp nhân tạo nếu thấy cần thiết. Đặt bệnh nhân ở tư thế dễ hồi sức và quay số 115 gọi cấp cứu. Nếu bệnh nhẩn bắt đầu cảm thấy muốn ngất xỉu trở lại, hãy đặt đầu bệnh nhân giữa hai đầu gối họ và bảo họ hít sâu vào.
(Bài viết được trích từ trang web sứckhỏecộngđồng.com)

Xem Chi Tiết!

Cấp cứu trong trường hợp khẩn cấp


Bất cứ điều gì cũng có thể làm bạn chú ý cùng một lúc. nếu bạn cố làm mọi việc ngay lập tức, bạn có thể dễ dàng làm những việc không cần thiết trước. Do đó, hãy luôn luôn làm việc theo trình tự, quyết định nhưng bước chính phải làm trong trường hợp khẩn cấp - thẩm định tình huống, làm an toàn hiện trường, gọi cấp cứu và yêu cầu giúp đỡ.

Kiểm tra cảm giác của bạn.
Dành một phút để suy nghĩ.
Đừng đặt mình vào tình cảnh nguy hiểm khi cứu người.
Sử dụng kinh nghiệm của bạn. đừng cố làm quá nhiều việc một mình.
Thẩm định tình huồng
Bạn nên có mặt ở hiện trường sớm, nhưng bình tĩnh để có thể biết được càng nhiều thông tin càng tốt. Trách nhiệm của bạn là nhận định những nguy hiểm nào có thể xảy đến với bản thân, với nạn nhân và những người xung quanh, sau đó ước định bạn có thể giúp đỡ điều gì và bạn cần sự giúp đỡ nào nữa. Hãy nói rằng bạn có chuyên môn khi ngỏ lời giúp đỡ nạn nhân. Nếu không có bác sĩ, y tá hay những người có kinh nghiệm nào khác, bạn phải bình tĩnh gánh vác mọi việc. Trước tiên, hãy tự đặt cho mình những câu hỏi sau:
Có sự nguy hiểm nào sẽ xảy ra nữa không ?
Có còn ai đang trong tình trạng nguy cấp không ?
Những người đứng gần có thể giúp đỡ không ?
Mình có cần chuyên viên giúp đỡ không?
Làm cho hiện trường an toàn
Những yếu tố gây ra tai nạn có thể sẽ tạo thêm nguy hiểm. Hãy nhớ là bạn phải bảo vệ an toàn cho bản thân mình trước đã. Bạn không thể giúp đỡ những người khác nếu bản thân bạn cũng trở thành nạn nhân.
Thường thì những biện pháp đơn giản nhất như tắt công tắc điện cũng đủ làm cho nơi đó an toàn. Đôi khi cũng cần có những biện pháp phức tạp hơn. Đừng bao giờ để cho bản thân mình và nạn nhân gặp nguy hiểm do bạn cố làm quá sức. Hãy chú ý đến
những điều kiện hạn chế của bạn.

Giải quyết nguy hiểm đang xảy đến
Nếu bạn không thể loại bỏ được mối nguy hiểm đe dọa đến mạng sống, bạn phải cố gắng đưa nạn nhân tránh ra xa đến một khoảng cách an toàn nào đó. Trước tiên, hãy thử đưa nạn nhân ra khỏi nơi nguy hiểm. trong nhiều tình huống bạn sẽ cần người giúp đỡ và các dụng cụ chuyên môn.

Gọi cấp cứu
Để bảo đảm an toàn, hãy kiểm tra từng nạn nhân bằng cách dùng phương pháp hồi sức abc. Những gì bạn phát hiện được sẽ giúp bạn quyết định khi nào thì cần gọi người giúp đỡ và mức giúp đỡ đến đâu là cần thiết nếu như bạn chỉ có một mình.
Mau chóng thẩm định xem nạn nhân thuộc trường hợp nào sau đây:
Hoàn toàn tỉnh táo.
Bất tỉnh nhưng còn thở.
Tắt thở nhưng mạch còn đập.
Mạch không đập nữa.
Yêu cầu giúp đỡ
Bạn có thể phải làm nhiều việc cùng một lúc như duy trì sự an toàn, điện thoại cầu cứu sự giúp đỡ và bắt dầu sơ cấp cứu. Hãy tận dụng tốt mọi nguồn giúp đỡ có thể có, có thể yêu cầu những người khác :
Làm cho hiện trường an toàn.
Gọi điện cầu cứu sự giúp đỡ.
Đi lấy dụng cụ sơ cấp cứu.
Điều khiển giao thông và những người đứng xem.
Cầm máu hay đỡ giữ tay chân nạn nhân.
Giữ cho nạn nhân được yên tĩnh.
Giúp di chuyển nạn nhân đến nơi an toàn.
Đưa ra những chỉ dẫn rõ ràng và kiểm tra việc thực hiện chúng.
Phản ứng của những người đứng xem
Không được bực tức vì những người đứng xem không trợ giúp bạn. Có thể có những lý do hợp lý khiến họ thấy không thể can thiệp vào thường là vì họ bối rối trước sự việc xảy ra. Tuy nhiên, việc giao những công việc đơn giản cho họ có thể tránh được sự hốt hoảng hay sự lo âu nơi họ, do đó giúp đỡ được nạn nhân và cả bản thân bạn.

Gọi điện yêu cầu sự giúp đỡ
Khi gọi điện cho các trung tâm cấp cứu, bạn phải cung cấp các thông tin sau:
Số điện thoại của bạn.
Vị trí chính xác nơi xảy ra sự cố, tên đường, số nhà và nếu có thể cho biết thêm giao lộ hoặc điểm chú ý đặc biệt nào đó trên đường.
Loại tai nạn và tính chất trầm trọng của nó. Ví dụ: "Tai nạn xe cộ, hai xe hơi, kẹt đường, ba người bị kẹt trong xe."
Số lượng, giới tính, tuổi chính xác của các nạn nhân và bất cứ điều gì bạn biết về căn bệnh của họ. Ví dụ: "Nam, hơn năm mươi tuổi, nghi bị bệnh tim, tim ngừng đập."
Chi tiết về các nguy hiểm như gas, các chất nguy hiểm, dây điện hư hoặc sương mù.
Nhiều nạn nhân
Bạn có thể cảm thấy khó khăn khi phải giải quyết sơ cấp cứu cho nhiều nạn nhân cùng một lúc. Thứ tự bạn điều trị cho họ có thể nguy hại đến sự sống còn của họ. Trước tiên hãy chú ý tới những người bất tỉnh trước. Theo sát phương pháp hồi sức abc để xác định sự ưu tiên trong chữa trị cho họ.
Hãy nhớ là bạn chỉ có thể cố gắng hết sức mình: bạn không được trông mong để phán đoán trúng người này sẽ chết, người kia sẽ sống và sẽ không bị chỉ trích nếu sự việc tiến triển xấu.

Tai nạn nghiêm trọng
Đặc điểm của tai nạn nghiêm trọng là có nhiều nạn nhân, mất trật tự và do đó đặt ra trách nhiệm hết sức nặng nề đối với người cấp cứu.
Trước tiên, trung tâm cấp cứu cần biết rõ thông tin về điều gì đã xảy ra để họ không chỉ giúp đỡ theo yêu cầu mà còn gửi dụng cụ và chuyên viên đến cứu trợ và chữa trị. Khi đã chắc chắn là đã gọi điện xong, bạn hãy xem xét lại hiện trường, bắt đầu sơ cấp cứu mà không gây thương tổn cho bản thân.
Khi đội cấp cứu đến, nhân viên cấp cứu đứng đầu sẽ chịu trách nhiệm hoàn toàn. Thường cảnh sát sẽ kiểm tra hiện trường xảy ra tai nạn trong khi nhân viên cứu thương cử người làm các việc khác nhau.

Nhiệm vụ của người sơ cấp cứu
Hãy nhớ là nhân viên cấp cứu có nhiều việc phải bận tâm hơn là bảo người sơ cấp cứu phải làm điều gì. Đừng mặc cảm bị xa lánh nếu họ không lưu tâm đến sự giúp đỡ của bạn. Quan trọng hơn là bạn phải rời khỏi hiện trường nếu được nhân viên cứu thương yêu cầu.
Tuy nhiên, có nhiều cách bạn có thể giúp đỡ một cách hữu ích. Ví dụ như điều trị những vết thương nhẹ hay chăm sóc dứa bé khi mẹ chúng đang được chữa trị. Giác quan của bạn sẽ chỉ cho bạn phải làm gì là tốt nhất.

Bạn có thể giúp đỡ bằng cách nào
Nạn nhân bị thương nhẹ nên được sớm di chuyển ra khỏi hiện trường để rộng chỗ giải quyết cho những trường hợp nặng hơn .
Không nên quan tâm nhiều đến những người đã chết dể tập trung chăm sóc cho những nạn nhân khác đang cần giúp đỡ.
Nên hỏi những người có liên quan và các nạn nhân để viết các báo cáo chính xác.
Công nhân hoặc cư dân ở gần hay tại hiện trường xảy ra tai nạn nên đề phòng các rủi ro và nguy hiểm có thể xảy ra nữa.
Bất kỳ bàng chứng có liên quan nào cũng nên giữ cẩn thận.
(Bài viết được trích từ trang web sứckhỏecộngđồng.com)

Xem Chi Tiết!